Ghi chú: Tất cả các ngày tháng ghi trong bài viết này đều tính theo Âm lịch.
Người Việt xưa vốn không biết Tết ! Tết là sự du nhập của văn hóa Trung Hoa. Tuy nhiên trước khi có sự du nhập này, ở nước ta cũng đã có rất nhiều các lễ hội, phản ánh cuộc sống tinh thần phong phú của cư dân nông nghiệp với nghề trồng lúa nước.
Lễ hội ở nước ta có từ rất sớm, có thể nói ngay từ thời kỳ văn hóa Đông Sơn với sự xuất hiện của nhà nước sơ khai đầu tiên trong lịch sử dân tộc. Hình ảnh lễ hội của người Việt phương Nam đã được thể hiện một cách sinh động qua những hoa văn trên những chiếc trống đồng thời kỳ văn hóa Đông Sơn (thế kỷ VIII-VII trước Công nguyên đến thế kỷ I-II).
Thư tịch cổ Trung Quốc nói về lễ hội của nước ta từ rất sớm. Hán Thư chép rằng: "Người Lạc Việt đến mùa thu tháng Tám thì mở hội, trai gái hát giao duyên, bằng lòng nhau thì lấy nhau". Sách Thái Bình Hoàn Vũ Ký cũng viết: "Người Lạc Việt không biết Tết, biết năm (theo lịch Trung Hoa), cứ lấy ngày Sửu tháng Tám làm ngày hội, già trẻ đi chúc tụng nhau, coi đó là ngày đầu năm".
Sở dĩ ban đầu hội mở vào mùa thu vì thời gian này phù hợp với lịch nông nghiệp, người ta có điều kiện để vui chơi. Lễ hội thời kỳ này mang tính chất thuần Việt, giàu âm hưởng của văn hóa Đông Nam Á cổ đại khi chưa chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán.
Sang thời kỳ Bắc thuộc, với sự du nhập của văn hóa Hán, cùng với đó là lịch phương Bắc, phong tục ăn Tết Nguyên Đán đã dần được nhân dân ta tiếp thu và phát triển trở thành một nét văn hóa đẹp trong đời sống của người dân Việt Nam.
Tết là biến âm từ "Tiết" mà ra, chỉ những ngày lễ được phân bố theo các tiết thời gian trong năm, đan xen giữa các khoảng trống trong lịch thời vụ. Do dân ta gần 90% làm nghề nông, trồng lúa nước mang tính thời vụ cao, bận tối ngày nên bình thường ăn uống đại khái. Vì vậy những lúc nhàn hạ (vào tiết nông nhàn), họ có tâm lý ... chơi bù, ăn bù cho thỏa những ngày đầu tắt mặt tối. Ngoài hệ thống lễ hội rất phong phú, dân Việt có hệ thống lễ Tết không kém phần đa dạng, bao gồm 12 Tết sau:
cotuongq3.blogspot.com
1. Tết Khai Hạ (mùng 7 tháng Giêng)
Tết Khai Hạ có nghĩa là Tết mở đầu ngày vui, chào xuân mới. Trong tháng Giêng, theo truyền thống, mỗi ngày ứng với 1 đối tượng, cụ thể như sau:
- mùng 1: gà.
- mùng 2: chó.
- mùng 3: lợn.
- mùng 4: dê.
- mùng 5: trâu.
- mùng 6: ngựa.
- mùng 7: người.
- mùng 8: lúa.
Trong 8 ngày đầu năm, hễ ngày nào tạnh ráo, sáng sủa thì đối tượng ứng với ngày ấy sẽ được tốt lành cả năm. Ngày mùng 7 mà trời nắng ráo thì người ta tin rằng con người được khỏe mạnh, gặp nhiều may mắn trong cả năm ấy. Mùng 7 hạ cây nêu, người ta mở ngay Tết Khai Hạ để mong cho cả năm tốt lành, vui vẻ.
cotuongq3.blogspot.com
2. Tết Thượng Nguyên (rằm tháng Giêng)
Một câu nói dân gian quen thuộc: "lễ Phật quanh năm không bằng ngày rằm tháng Giêng". Rằm tháng Giêng, đó là ngày trăng tròn đầu tiên của năm. Tết này còn gọi là Tết Nguyên Tiêu, phần lớn được tổ chức ở các chùa vì ngày rằm tháng Giêng còn là ngày vía của Phật Tổ A Di Đà. Thiện nam tín nữ đi lễ rất đông, vừa trẩy hội chùa vừa cầu phúc.
cotuongq3.blogspot.com
3. Tết Hàn Thực (mùng 3 tháng Ba)
Hàn thực (chữ Hán) có nghĩa là ăn đồ nguội. Gốc Tết này, vốn ở Trung Quốc thời Xuân Thu. Tích cũ kể: lúc vua Văn Công nhà Tấn gặp nạn, có người hiền sĩ là Giới Tử Thôi hết lòng phò trợ. Khi lương cạn, vua đói quá, Giới Tử Thôi đã cắt thịt đùi mình nấu nướng dâng vua. Trải 19 năm trời, nay trú Tề, mai ngụ Sở, cuối cùng vua Văn Công lại được trở về làm vua nước Tấn. Vua ban thưởng cho những người đã thủy chung theo mình vượt cảnh long đong hoạn nạn, nhưng lại quên mất Giới Tử Thôi. Không oán trách gì vua, coi việc mình làm là nghĩa vụ đương nhiên của thần dân, Giới Tử Thôi đem mẹ vào núi Điền Sơn ở ẩn, quanh năm vui vẻ với ruộng đồng. Khi vua nhớ ra người hiền sĩ năm xưa, bèn sai người vào núi mời ra, nhưng không được. Vua cho đốt rừng để Giới Tử Thôi phải ra, nhưng ông vẫn không chịu xa mẹ, xa rừng. Kết quả bi thảm là hai mẹ con ông cùng chết cháy. Vua thương xót, ân hận thì đã muộn, bèn cho lập miếu thờ trên núi. Mẹ con ông mất nhằm ngày mùng 3 tháng Ba. Thương mẹ con ông bị chết thiêu, từ đấy hàng năm vào ngày đó, người ta có lệ cấm đốt lửa mà chỉ ăn đồ nguội đã nấu sẵn từ trước. Ở Việt Nam, từ thời Thăng Long Đại Việt, nhân dân ta đã ăn Tết này, thường làm bánh trôi, bánh chay để thay đồ nguội, nhưng chủ yếu để cúng gia tiên chứ không còn mấy ai biết gì đến ông Giới Tử Thôi và tích truyện ấy nữa !
cotuongq3.blogspot.com
4. Tết Thanh Minh (tháng Ba)
Thanh minh trong tiết tháng Ba,
Lễ là tảo mộ, hội là đạp thanh.
(Truyện Kiều - Nguyễn Du)
Thanh minh có nghĩa là thời tiết độ ấy mát mẻ, quang đãng. Dịp này mọi nhà thường tổ chức đi thăm mồ mả của những người trong thân tộc. Tết Thanh Minh từ đấy trở thành lễ tảo mộ. Khi thăm mộ, thấy cỏ rậm thì phát quang, thấy đất khuyết thì bồi đắp, rồi về nhà làm cỗ cúng gia tiên.
cotuongq3.blogspot.com
5. Tết Đoan Ngọ (mùng 5 tháng Năm)
Tết Đoan Ngọ còn gọi là Tết Đoan Dương. Theo âm lịch, đến đầu tháng Năm ở Việt Nam ta mới hết Xuân sang Hạ. Giai đoạn chuyển mùa này hay có bệnh thời khí. Nghi lễ đầu mùa Hạ thường lấy tích từ truyện ông Khuất Nguyên, một vị trung thần vì không can ngăn được vua Hoài Vương nên đã gieo mình xuống sông Mịch La tự vẫn. Hôm ấy là mùng 5 tháng Năm. Nhân dân Trung Quốc thời xưa thương tiếc Khuất Nguyên trung nghĩa, mỗi năm cứ ngày ấy thì làm bánh bao, bánh ngọt, cuốn chỉ ngũ sắc ở ngoài (có ý cho cá sợ mà không đớp mất) rồi bơi thuyền ra giữa dòng sông, ném bánh xuống cúng ông.
Ta thì ít người biết chuyện ông Khuất Nguyên, chỉ coi Tết Đoan Ngọ là ngày Tết ... giết sâu bọ (vì thời gian này chuyển mùa, các bệnh dịch dễ hoành hành).
Dân gian xưa có mấy cách làm gọi là để phòng bệnh. Đến Tết này, lấy lá móng nhuộm các đầu ngón tay, ngón chân cho trẻ em (trừ ngón tay trỏ và ngón chân trỏ). Sáng hôm ấy ăn rượu nếp, trứng luộc, kê, bánh đa và các loại hoa quả chua, chát. Người lớn uống rượu xương bồ, trẻ em bôi thuốc hồng hoàng vào thóp đầu, ngực, rốn gọi là để trừ trùng.
Ở nông thôn, đón Tết ấy người ta lấy lá ngải cứu kết hình rồng, hình hổ treo trước cửa. Đến giờ Ngọ, người ta lấy các thứ lá như mâm xôi, ích mẫu, cối xay, ... phơi khô làm thuốc để sắc nước uống.
Cũng dịp này, những người mê tín hay mua bùa (kết bằng chỉ ngũ sắc) hình hoa sen, quả đào, quả khế, ... đeo cho con trẻ. Lại không ít người mua áo nhuộm vàng, đem đến các chùa vẽ bùa màu đỏ rồi mặc cho trẻ (có ý trừ tà). Tục cũ là thế nhưng không phải ai cũng theo, tùy người, tùy nhà.
Tết Đoan Ngọ với nhiều người chỉ là ngày lễ giữa năm, lại ... làm cỗ cúng gia tiên !
cotuongq3.blogspot.com
6. Tết Trung Nguyên (rằm tháng Bảy)
Rằm tháng bảy gọi là Tết Trung Nguyên, còn là mùa Vu Lan báo hiếu. Theo kinh Phật, hôm ấy là ngày xá tội vong nhân, các chùa thường làm chay chẩn tế và cầu kinh Vu Lan. Ở các nhà thì bày cúng gia tiên, đốt giấy vàng bạc và đồ dùng bằng hàng mã để người dưới âm ty dùng (!)
cotuongq3.blogspot.com
7. Tết Trung Thu (rằm tháng Tám)
Rằm tháng Tám là Tết Trung Thu, vốn là Tết dành cho trẻ con, nhưng người lớn nhân Tết này tổ chức các buổi họp mặt ngắm trăng, ăn bánh, uống trà cũng không phải ít.
Thông thường, ban ngày người ta làm lễ cúng gia tiên, tối đến bày cỗ thưởng nguyệt. Đầu cỗ là bánh nướng lớn hình trăng, ngoài ra còn có nhiều thứ bánh trái, hoa quả khác. Con gái đua tài khéo tay, gọt đu đủ thành các thứ hoa và nhào bột nặn nhiều con giống.
Đồ chơi trẻ con trong Tết Trung Thu cổ truyền là các thứ bồi bằng giấy đủ thứ hình dạng. Tối đến, dưới ánh trăng rằm, trẻ con dắt díu nhau từng đoàn rước đèn, múa lân, múa sư tử. Trống cái, trống con, thanh la đánh inh ỏi. Chán rồi thì phá cỗ, vui đến khuya.
cotuongq3.blogspot.com
8. Tết Trùng Cửu (mùng 9 tháng Chín)
Tết Trùng Cửu bắt nguồn từ sự tích của đạo Lão. Đời nhà Hán (Trung Quốc) có người tên là Hoàn Cảnh đi học phép tiên. Một hôm, sư phụ bỗng bảo Hoàn Cảnh nói với người nhà mỗi người may một cái túi lụa đựng hoa cúc mà lên chỗ cao nương náu ít ngày. Rồi ngày mùng 9 tháng Chín trời bỗng mưa rất to, ngập hết làng mạc, người chết rất nhiều. Riêng Hoàn Cảnh làm theo lời sư phụ dạy nên cả nhà may mắn thoát nạn.
Thời Lý – Trần ở ta, các nho sĩ cũng theo lễ này, nhưng lại biến thành cuộc du ngoạn trên vùng cao, uống rượu cúc gọi là thưởng Tết Trùng Cửu.
cotuongq3.blogspot.com
9. Tết Trùng Thập (mùng 10 tháng Mười)
Vào ngày Tết Trùng Thập, các thầy thuốc thường làm lễ lớn. Theo sách Dược lễ, ngày ấy các cây thuốc mới thụ được khí âm dương, kết được sắc tứ thời (Xuân, Hạ, Thu, Đông) cho nên rất tốt. Còn ở thôn quê thì đến Tết này thường làm bánh dầy, nấu chè kho, trước là để cúng gia tiên, sau biếu người thân thuộc, chứ chẳng để ý gì đến chuyện thầy thuốc như trên đây vừa nói.
cotuongq3.blogspot.com
10. Tết Hạ Nguyên (rằm tháng Mười)
Tết này còn gọi là Tết cơm mới, có từ thời Lý – Trần, được bà con nông dân tổ chức rất lớn, vì đây là dịp nấu cơm gạo mới, trước là để cúng tổ tiên, sau để tự thưởng công cày cuốc. Tuy gọi là Tết cơm mới, nhưng nhìn chung thứ gì người ta trồng trọt và chăn nuôi được đều đem ra ăn Tết.
cotuongq3.blogspot.com
11. Tết Ông Táo (23 tháng Chạp)
Táo quân là thần Táo, hay còn gọi là vua bếp.
Truyền thuyết dân gian kể rằng: Ngày xưa có hai vợ chồng nhà kia nghèo khổ quá, phải bỏ nhau. Sau, người vợ lấy được chồng giàu có, một hôm cúng đốt vàng mã ngoài sân thì có người vào ăn xin. Nhận ra người ăn xin chính là chồng cũ của mình, người vợ cảm thương, đem cơm gạo, tiền bạc ra cho. Người chồng hiện tại biết chuyện, đâm ra nghi ngờ vợ. Chị vợ uất ức quá, đâm đầu vào đống lửa mà chết. Người chồng cũ cám cảnh ân tình cũng đâm đầu vào lửa chết theo. Người chồng sau ân hận, đau lòng quá cũng nhảy vào nốt, thế là cả 3 đều chết cháy. Ngọc hoàng thấy họ đều có nghĩa tình bèn phong cho 3 người làm vua bếp.
Tục truyền mỗi năm thần Táo phải về trời 1 lần vào ngày 23 tháng Chạp, để tường trình cho Ngọc hoàng những việc xảy ra dưới nhân gian trong năm đó. Vì vậy vào ngày này, người dân Việt Nam thường cúng kiếng rất long trọng để tiễn thần Táo về chầu Ngọc hoàng, và đến ngày 30 lại cúng để mời ông bà và Táo quân về ăn Tết. Theo tục lệ, tiễn Táo quân về trời ngoài mâm cơm còn có áo mão bằng giấy, đôi hia, và con cá chép thả trong chậu nước để Táo quân cỡi về trời. Nói chung tục lệ này nhằm để răn dạy người ta nên giữ gìn hạnh kiểm, vì mọi sự đều sẽ được tâu lên với Ngọc Hoàng.
Trên báo chí, tranh vui thường vẽ ông bà Táo nhà ta không mặc quần ! Nguyên nhân là theo thông lệ, người ta cúng Táo quân đủ cả mũ, áo, đai, hia, nhưng lại không cúng quần. Thế nên mới có bài thơ vui châm biếm nổi tiếng:
Hăm ba ông Táo dạo chơi Xuân,
Đội mũ, mang hia, chẳng mặc quần.
Thượng đế hỏi rằng sao chướng vậy ?
Tâu rằng: Hạ giới nó duy tân !
cotuongq3.blogspot.com
12. Tết Nguyên Đán (mùng 1 tháng Giêng)
Trong 12 lễ Tết theo cổ truyền thì Tết Nguyên Đán này to hơn hết. Tại châu Á, thời điểm mừng năm mới không hoàn toàn trùng hợp. Ở vùng Bắc Ấn Độ ăn Tết vào tháng Tư, Nam Ấn lại tháng Ba. Campuchia thì năm mới lại bắt đầu vào tháng Tư, có năm xê dịch sang tháng Ba hoặc tháng Năm. Các nước này ăn Tết theo Phật lịch. Chỉ có Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên là ăn Tết Nguyên Đán vào ngày mùng 1 tháng Giêng.
Tết Nguyên Đán trước hết là Tết của gia đình, như câu ca còn ghi lại:
Mùng một thì ở nhà cha,
Mùng hai nhà mẹ, mùng ba nhà thầy.
Nhà văn Thanh Tịnh có nghiên cứu kỹ 12 ngày lễ Tết trên đây. Riêng Tết Nguyên Đán, ông nói tường tận nhất. Ông cho biết: Theo phong tục thì 3 ngày Tết Nguyên Đán có 3 sự gặp gỡ hết sức quan trọng ngay trong một nhà.
Trước hết là sự gặp gỡ giữa các vị thần linh. Thần linh ở đây không cao xa, không huyền bí mà hết sức gần gũi, toàn là các vị thần trong nhà - gọi là gia thần. Đó là tiên sư, hay nghệ sư, tức vị tổ đầu tiên đã dạy nghề mình đang làm. Đó là Thổ công, vị thần giữ đất, coi đất nơi mình ở. Và đó là Táo quân, vị thần đã chăm sóc, giúp đỡ việc nấu ăn cho mọi người trong gia đình.
Thứ hai là sự gặp gỡ của tổ tiên, những người đã khuất. Tết đến, hương hồn của họ cũng về sum họp với con cháu theo sự tưởng tượng phong phú và tình cảm của người đời.
Thứ ba là cuộc gặp gỡ của những người trong nhà. Theo tập quán, dù ai đi bất cứ đâu, làm bất cứ nghề gì, hàng năm mỗi khi Tết đến cũng đều mong muốn trở về nhà sum họp gia đình. Quả thật ngày Tết cổ truyền Việt Nam là ngày nhớ ơn, tạ ơn, ngày hội đoàn tụ, đoàn viên rất đẹp.
Có 1 phong tục rất hay trong dịp Tết Nguyên Đán, đó là lì xì ! Được phiên âm từ tiếng Quảng Đông, nguyên là chữ "lợi thị", có nghĩa là tiền bạc, lợi lộc. Để mừng tuổi các em nhỏ, những người lớn trong gia đình tặng những món tiền nho nhỏ và chúc các em chóng lớn, học hành đỗ đạt trong năm mới. Tiền được để trong những bao đỏ, vì màu đỏ tượng trưng cho sự may mắn. Ngược lại, người nhỏ cũng có thể mừng tuổi, chúc phúc người lớn. Những mong ước tốt đẹp của một người muốn gửi gắm đến người khác sẽ được "truyền tải" bằng những bao lì xì đỏ thắm, nhỏ nhắn nhưng chứa chan tình cảm.
cotuongq3.blogspot.com
Trong số 12 ngày lễ Tết kể trên, giờ đây phổ biến nhất là 2 Tết: Nguyên Đán và Trung Thu.
0
nhận xét
:
*** ĐĂNG MỘT NHẬN XÉT ***
Xin vui lòng để lại tên của bạn khi đăng nhận xét, để chủ blog này có thể trả lời bạn khi cần.
0 nhận xét :
*** ĐĂNG MỘT NHẬN XÉT ***
Xin vui lòng để lại tên của bạn khi đăng nhận xét,
để chủ blog này có thể trả lời bạn khi cần.